Dự thảo Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Thái Nguyên lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2015 - 2020; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của nhiệm kỳ 2020 - 2025
Cập nhật ngày: 06/05/2020 09:05 (Lượt xem: 8279) 
BÁO CÁO TỔNG KẾT
thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Thái Nguyên
lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2015 - 2020; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của nhiệm kỳ 2020 - 2025
-----------------
TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, GIỮ VỮNG QUỐC PHÒNG, AN NINH; ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO, HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC, XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG THEO HƯỚNG VĂN MINH, HIỆN ĐẠI
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT 5 NĂM THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ
LẦN THỨ XVII, NHIỆM KỲ 2015 - 2020
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Thái Nguyên lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2015 - 2020, 35 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với sự đoàn kết, thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận cao của nhân dân; thành phố Thái Nguyên có bước phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Các nhiệm vụ chính trị được lãnh đạo toàn diện và đạt nhiều kết quả nổi bật. Các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết đề ra. Chỉ đạo triển khai có hiệu quả 06 đề án về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; 11 đề án về phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2016 - 2020.
Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, thương mại - dịch vụ tiếp tục chiếm vai trò chủ đạo. Tốc độ tăng trưởng các ngành sản xuất cao hơn nhiệm kỳ 2010 - 2015. Thu ngân sách nhà nước năm 2020 gấp 2 lần so với năm 2015. Triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định số 2486/QĐ-TTg, ngày 20/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên đến năm 2035; địa giới hành chính được điều chỉnh, không gian đô thị được mở rộng theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; kết cấu hạ tầng đô thị được đầu tư hoàn thiện với nhiều công trình có dấu ấn nổi bật như: Đường Việt Bắc, Cầu Bến Tượng, đường Bắc Sơn kéo dài... đã góp phần thay đổi diện mạo đô thị thành phố ngày càng hiện đại, “Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp”. Thu hút đầu tư có nhiều bứt phá và dẫn đầu toàn tỉnh; các dự án, công trình trọng điểm được triển khai có hiệu quả. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ; an sinh xã hội được đảm bảo; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao; hoàn thành và đưa vào sử dụng Khu Di tích lịch sử Quốc gia TNXP Đại đội 915, Nghĩa trang An Lạc Viên. Công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính được triển khai sâu rộng, đảm bảo công khai, minh bạch, chuyên nghiệp, phục vụ ngày càng tốt hơn nhân dân và doanh nghiệp. Năm 2017, thành phố Thái Nguyên được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhất lần thứ 2 và được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới.
Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được tăng cường trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được đổi mới, sắp xếp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có những chuyển biến tích cực. Huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận cao của nhân dân trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ thành phố. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo.
A. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
(1) Tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 15,75% (Mục tiêu: Tăng trên 15%). Trong đó, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ - thương mại đạt 18,15%; công nghiệp - xây dựng đạt 15,4%; nông, lâm nghiệp, thủy sản 10,7%.
(2) Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương đến năm 2020 đạt 8.500 tỷ đồng (Mục tiêu: Đạt 7.050 tỷ đồng).
(3) Thu ngân sách nhà nước theo phân cấp được giao bình quân hằng năm tăng 16,5% (Mục tiêu: Tăng 16,5%).
(4) Giá trị sản phẩm trên 01 ha đất trồng trọt đến năm 2020 đạt 135 triệu đồng (đạt mục tiêu Nghị quyết).
(5) Giải quyết việc làm tăng thêm năm 2020 đạt 5.400 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt 76% (Mục tiêu: 75%). Năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo còn 0,9% (Mục tiêu: 1,3%), tỷ lệ hộ cận nghèo còn 1,0% (Mục tiêu: 1,5%). Quản lý 100% số người nghiện ma túy có mặt trên địa bàn (đạt mục tiêu Nghị quyết).
(6) Củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục các cấp học. Năm 2020, có 89,4% trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học công lập đạt chuẩn quốc gia (Mục tiêu: 88%). Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; phổ cập giáo dục tiểu học và THCS mức độ 3; tỷ lệ huy động trẻ em lứa tuổi nhà trẻ đến trường đạt 37% (Mục tiêu: 35%), mẫu giáo đạt 99% (đạt mục tiêu Nghị quyết).
(7) Năm 2020, có 96,2% cơ quan đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa (Mục tiêu: 96%); 95,97% gia đình văn hóa (Mục tiêu: 95%); 96,3% xóm, tổ dân phố văn hóa (Mục tiêu: 82%); 100% các xóm, tổ dân phố (liên tổ) có nhà văn hóa và địa điểm sinh hoạt cộng đồng (Mục tiêu: 95%); 32/32 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, bằng 100% (đạt mục tiêu Nghị quyết).
(8) Năm 2020, có 46,5% diện tích đất nội thành được lập quy hoạch chi tiết 1/500 (Mục tiêu: 45%); 98% dân số khu vực nội thành được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh (đạt mục tiêu Nghị quyết); 100% lượng chất thải rắn đô thị, 100% lượng chất thải y tế được thu gom, xử lý hợp vệ sinh (đạt mục tiêu Nghị quyết); 32km đường đô thị được ngầm hoá hệ thống hạ tầng kỹ thuật (Mục tiêu: 20 km).
(9) Hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân và huấn luyện lực lượng vũ trang thành phố, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết, số người bị thương (đạt mục tiêu Nghị quyết).
(10) Hằng năm có trên 98% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (Mục tiêu: trên 85%); trên 85% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (Mục tiêu: 90%), trong đó có 15% đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (Mục tiêu: từ 15% đến 20%). Kết nạp 2.064 đảng viên mới (Mục tiêu: 1.900); 100% cán bộ, công chức, viên chức đạt chuẩn về trình độ theo quy định (đạt mục tiêu Nghị quyết).
II. KẾT QUẢ TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH, NỘI CHÍNH, ĐỐI NGOẠI
1. Kinh tế tiếp tục phát triển và đạt mức tăng trưởng khá
1.1. Dịch vụ, thương mại tiếp tục phát triển, có mức tăng trưởng cao, chiếm vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế
Dịch vụ, thương mại tiếp tục khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của thành phố. Đã khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, du lịch được đẩy mạnh kết hợp với các hoạt động thương mại, dịch vụ truyền thống; một số ngành dịch vụ có lợi thế như công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục được ưu tiên phát triển; đẩy mạnh xuất khẩu và hình thành một số mặt hàng sản phẩm mới. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thị trường, quản lý giá, phí đúng quy định. Công tác chuyển đổi mô hình khai thác và quản lý hệ thống chợ trên địa bàn được tăng cường. Các hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị và các cơ sở kinh doanh dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Năm 2020, tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ, thương mại đạt 18,15%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân trên 15%/năm. Hiện nay, thành phố có trên 30.000 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động. Hệ thống các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, các bệnh viện và cơ sở y tế tư nhân được đầu tư nâng cấp và mở rộng; một số mặt hàng thế mạnh của thành phố như: May mặc, sản phẩm chè, linh kiện điện tử… được mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
Đẩy mạnh các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch, gắn phát triển du lịch với phát triển kinh tế - xã hội. Đã hình thành các tua, tuyến du lịch kết nối với các điểm du lịch trong tỉnh. Hệ thống khách sạn, nhà hàng, các cơ sở dịch vụ lưu trú đáp ứng nhu cầu của nhân dân và du khách. Dịch vụ giao thông vận tải phát triển đa dạng, phong phú với các loại hình phương tiện cộng đồng. Trên địa bàn thành phố có trên 3.700 cơ sở lưu trú và ăn uống, trong đó có 14 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 2 sao đến 4 sao; gần 30 doanh nghiệp kinh doanh các loại hình vận tải với trên 1.500 đầu xe.
1.2. Công nghiệp - xây dựng phát triển theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường
Tập trung đầu tư các ngành công nghiệp theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, quy hoạch phát triển công nghiệp của vùng và cả nước. Từng bước cải tạo và di chuyển một số cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu vực trung tâm thành phố. Công nghiệp đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động và nâng cao đời sống nhân dân.
Ưu tiên phát triển công nghiệp xây dựng theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường. Quan tâm thu hút đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp trên địa bàn; một số dự án sản xuất công nghiệp sử dụng công nghệ cao được triển khai như: Chế biến khoáng sản, xử lý chất thải công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử, sản phẩm thời trang may mặc... Chủ động tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Cụm công nghiệp Sơn Cẩm 1, Sơn Cẩm 3 được tích cực triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư trên 700 tỷ đồng. Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương (theo giá so sánh 2010) năm 2020 đạt 8.500 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt trên 15,4 %/năm.
1.3. Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Sản xuất nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến. Chỉ đạo đẩy mạnh việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, chuyên canh với những giống mới có năng suất, chất lượng cao như: cây chè, ổi, hoa tươi… trong đó tiếp tục xác định chè là cây trồng chủ lực, có thế mạnh của địa phương. Năm 2020, trên địa bàn có 75 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, diện tích chè đạt 1.570 ha, sản lượng đạt 22.100 tấn. Giá trị sản phẩm trên 01 ha đất trồng trọt 135 triệu đồng.
Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, an toàn sinh học, an toàn thực phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Một số giống vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao được đưa vào chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa. Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm. Năm 2019, trên địa bàn xảy ra bệnh dịch tả lợn Châu Phi, thành phố đã kịp thời khoanh vùng, dập dịch, thực hiện đầy đủ các cơ chế hỗ trợ cho tổ chức và nhân dân đảm bảo ổn định đời sống và tái đàn phục vụ sản xuất (tổng số kinh phí hỗ trợ từ ngân sách trên 30 tỷ đồng).
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến theo hướng sản phẩm nông nghiệp sạch, sản phẩm nông nghiệp đô thị. Đẩy mạnh phát triển các hiệp hội nghề trong sản xuất nông nghiệp, nhân rộng mô hình sản xuất và số lượng hợp tác xã nông nghiệp, đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị sản phẩm, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, bảo vệ môi trường trong khu vực nông thôn. Tập trung xây dựng nhãn hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm chè Tân Cương thị trường trong và ngoài nước.
Làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn được quan tâm phát triển, với 43 làng nghề, làng nghề truyền thống như: Làng nghề trồng hoa đào Cam Giá, làng nghề trồng hoa, cây cảnh xã Quyết Thắng, vùng sản xuất chè đặc sản Tân Cương… (tăng 16 làng nghề, làng nghề truyền thống so với năm 2015). Đã hình thành phương thức liên kết, tiêu thụ nông sản, tạo việc làm mới cho lao động nông thôn, góp phần phát triển kinh tế. Chú trọng phát triển mô hình nông nghiệp đô thị; xây dựng và triển khai Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, giai đoạn 2016 - 2020 góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp.
Chương trình xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo với sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội; sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân. Thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2016 và được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.
1.4. Hoạt động tài chính, ngân hàng tiếp tục phát triển
Hoạt động tài chính được quan tâm chỉ đạo có nhiều chuyển biến tích cực. Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách của Trung ương, của tỉnh về tài chính, tín dụng; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Hệ thống ngân hàng, kho bạc hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nhu về vốn cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh.
Thu ngân sách mặc dù còn gặp khó khăn, song cấp ủy thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp tăng thu ngân sách; kết quả hằng năm đều vượt cao so với kế hoạch. Thu ngân sách nhà nước theo phân cấp tăng từ 1.191,6 tỷ đồng năm 2015 lên 2.137,7 tỷ đồng năm 2020. Chi ngân sách đảm bảo đúng luật, hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng nhiệm vụ chính trị và nhu cầu đầu tư phát triển. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn ODA và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định.
2. Công tác thu hút đầu tư đạt nhiều thành tựu nổi bật
Xác định thu hút đầu tư là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế, Đảng bộ thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp, huy động có hiệu quả nguồn vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong đó nhiều nhà đầu tư có uy tín, tiềm lực như: Doanh nghiệp tư nhân Xuân Trường, Tập đoàn Indevco, Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Danko, Công ty Tecco, Công ty Cổ phần đầu tư và thương mại TNG, Công ty Cổ phần thương mại Thái Hưng, Công ty đầu tư Quảng Long… với gần 100 dự án, tổng mức đầu tư trên 100 nghìn tỷ đồng, đầu tư vào nhiều lĩnh vực như: Thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể thao, du lịch, hạ tầng giao thông, hạ tầng khu đô thị... Đặc biệt, với kết quả của Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Thái Nguyên năm 2018 đã có 30 nhà đầu tư, 54 dự án, với tổng vốn đăng ký đầu tư trên 63 nghìn tỷ đồng.
Đồng thời với việc triển khai dự án “Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - thành phố Thái Nguyên”, năm 2019 dự án “Phát triển tổng hợp đô thị động lực thành phố Thái Nguyên” vay vốn Ngân hàng Thế giới đã được Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Thế giới phê duyệt với tổng số vốn là 181 triệu USD. Đây là nguồn lực tài chính quan trọng tạo động lực cho phát triển đô thị thành phố Thái Nguyên trong thời gian tới. Đến nay, nhiều dự án, công trình trọng điểm đã và đang hoàn thành đi vào sử dụng góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị thành phố theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thành phố.
3. Không gian đô thị được mở rộng, kết cấu hạ tầng đô thị được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, hiện đại; công tác quản lý nhà nước về xây dựng, tài nguyên và môi trường được tăng cường; nếp sống văn minh đô thị có chuyển biến rõ nét
3.1. Công tác quản lý, phát triển đô thị được chú trọng; nguồn lực đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị được tăng cường
Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố đến năm 2035 được chỉ đạo triển khai với nhiều định hướng lớn, mang tính đột phá trong tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan và phát triển hạ tầng đô thị, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg, ngày 20/12/2016. Điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính và thành lập 02 phường thuộc thành phố Thái Nguyên được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 422/NQ-UBTVQH14, ngày 18/8/2017. Đây là cơ sở pháp lý, tiền đề, động lực quan trọng để Đảng bộ thành phố lãnh đạo, chỉ đạo và đề ra các chương trình, kế hoạch xây dựng thành phố Thái Nguyên phát triển bền vững.
Trên cơ sở Quy hoạch chung đô thị đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Thành phố đã chỉ đạo rà soát lập mới, điều chỉnh quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết để có cơ sở quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, làm căn cứ thu hút đầu tư, lập và triển khai các dự án đầu tư. Giai đoạn 2015 - 2020, đã bố trí ngân sách, đồng thời huy động có hiệu quả nguồn vốn xã hội hóa trong công tác lập và triển khai các đồ án quy hoạch đô thị. Tổng kinh phí chi cho công tác quy hoạch từ nguồn ngân sách đạt gần 50 tỷ đồng, từ nguồn tài trợ của các nhà đầu tư đạt gần 30 tỷ đồng, với 98 đồ án. Đến năm 2020, 46,5% diện tích đất nội thành được quy hoạch chi tiết (vượt mục tiêu Nghị quyết). Công tác quản lý quy hoạch, công bố công khai, cắm mốc giới được thực hiện kịp thời, đúng quy định hiện hành. Phần lớn các đồ án quy hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt đều được triển khai cụ thể hóa bằng các dự án phát triển đô thị.
Công tác đầu tư xây dựng cơ bản được Đảng bộ thành phố quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ và có hiệu quả rõ nét. Nhiều dự án, công trình đã và đang được đầu tư hoàn thiện như: Đường Bắc Sơn kéo dài, Đường Việt Bắc, cầu Bến Tượng, cầu Tân Long, cải tạo hồ Xương Rồng 2, trường mầm non Đồng Quang, trường mầm non Quang Trung, trường tiểu học Cam Giá, Trung tâm thương mại Big C, Nhà tang lễ thành phố, đầu tư cải tạo vỉa hè, áp phan các tuyến đường khu vực trung tâm thành phố, Trung tâm thương mại tài chính FCC, tòa nhà TECCO, khu nhà ở Tiến Bộ, Nghĩa trang An Lạc Viên Indevco, trung tâm thời trang TNG, khu đô thị Thái Hưng EcoCity...
Đến năm 2020, có 32km đường đô thị được hạ ngầm hệ thống hạ tầng kỹ thuật (mục tiêu Nghị quyết là 20km). Giai đoạn 2015 - 2020 đã có 412 công trình, dự án được triển khai với tổng mức đầu tư từ nguồn ngân sách thành phố trên 7.795 tỷ đồng. Có 13 dự án được đầu tư bằng nguồn ODA với tổng giá trị trên 2.500 tỷ đồng.
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong lĩnh vực quản lý đô thị đạt hiệu quả và có chuyển biến rõ nét, góp phần nâng cao ý thức và nếp sống văn minh đô thị. Quản lý trật tự xây dựng và mỹ quan đô thị được tăng cường. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các đề án: Xây dựng tuyến phố văn minh đô thị; phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn; nâng cao năng lực quản lý trật tự xây dựng và mỹ quan đô thị. Chất lượng dịch vụ công ích đô thị ngày một nâng cao. Liên tục các năm từ 2016 đến năm 2019, thành phố Thái Nguyên được Bộ Xây dựng, Hiệp hội các đô thị Việt Nam khen thưởng vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện Phong trào “Xây dựng đô thị Xanh - Sạch - Đẹp” gắn với tăng trưởng xanh và chống biến đổi khí hậu.
3.2. Công tác quản lý tài nguyên môi trường, bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều chuyển biến tích cực gắn với chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu
Công tác quản lý nhà nước trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2016 - 2020 đảm bảo đúng quy định và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Triển khai có hiệu quả đề án nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai môi trường, khoáng sản trên địa bàn. Chủ động phối hợp với các sở, ngành của tỉnh làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi, vi phạm về đất đai và môi trường, khoáng sản. Công tác đo đạc bản đồ địa chính và số hóa bản đồ địa chính được triển khai thực hiện, góp phần công khai, minh bạch trong công tác quản lý đất đai, xây dựng hệ thống thông tin đất đai hoàn thiện, hiện đại. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất và các thủ tục hành chính về đất đai được thực hiện theo quy định; quản lý tài nguyên, khoáng sản, quản lý môi trường trên địa bàn thành phố được duy trì thực hiện thường xuyên. Thành phố đã tập trung chỉ đạo các xã, phường tăng cường công tác quản lý quỹ đất công, kịp thời khắc phục những hạn chế tồn tại trong quản lý đất đai trên địa bàn (đến năm 2020 số hóa và quản lý đồng bộ 100% bản đồ địa chính trên hệ thống máy tính; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 99,5% cho các hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện; 99,5% cho nhà văn hóa xóm, tổ dân phố).
Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác tuyên truyền phổ biến các quy định pháp luật về môi trường được tăng cường; các hành vi vi phạm về môi trường được kiểm tra và xử lý theo quy định. Phối hợp với các sở, ngành của Tỉnh triển khai việc rà soát quy hoạch nâng cấp, cải tạo hệ thống đê, kè, các khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai để chủ động ứng phó, hạn chế thiệt hại, rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra.
Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được xác định là nhiệm vụ trọng tâm để tạo nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng; có nhiều biện pháp chỉ đạo thực hiện tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn. Đến nay, cơ bản các dự án được khởi công xây dựng đúng tiến độ, kế hoạch đề ra, tạo tiền đề cho việc thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, chỉnh trang đô thị của thành phố Thái Nguyên (đến nay thành phố đã triển khai 108 dự án thu hồi đất; số hộ gia đình, tổ chức thuộc diện thu hồi đất là 12.436 hộ; tổng kinh phí chi trả bồi thường giải phòng mặt bằng 4.847,83 tỷ đồng; đã triển khai cấp đất tái định cư ổn định đời sống cho 2.794 hộ).
4. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được bảo đảm, chất lượng cuộc sống của nhân dân từng bước được nâng cao
4.1. Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển theo hướng đổi mới căn bản và toàn diện, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, từng bước đáp ứng nhu cầu của xã hội
Hệ thống giáo dục và đào tạo ngày càng phát triển hoàn thiện theo hướng mạng lưới trường lớp tiếp chuẩn hoá, hiện đại hoá; chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước nâng cao. Quy mô tục được mở rộng; hiện nay thành phố quản lý 145 trường, tăng 37 trường so với năm 2015, trong đó thành lập mới 14 trường, tiếp nhận 23 trường do điều chỉnh địa giới hành chính. Triển khai hiệu quả Đề án phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia có nhiều chuyển biến tích cực, đến nay 110 trường công lập đạt chuẩn Quốc gia, chiếm tỷ lệ 89,4% (vượt mục tiêu Nghị quyết).
Cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các nhà trường được quan tâm đầu tư, đảm bảo nhu cầu dạy và học. Trong nhiệm kỳ đã đầu tư xây dựng mới, cải tạo sửa chữa 79 trường với trên 674 phòng học và các phòng chức năng, tổng mức đầu tư từ nguồn ngân sách trên 472 tỷ đồng; huy động xã hội hóa xây dựng trường học ngoài công lập trên 492 tỷ đồng; chi mua sắm tài sản, trang thiết bị trên 23,7 tỷ đồng.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đạt và vượt chuẩn về trình độ đào tạo, đảm bảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Duy trì phổ cập giáo dục các cấp học. Chất lượng giáo dục ngày được nâng lên (hàng năm có trên 75% học sinh THCS học lực khá, giỏi), chất lượng giáo dục mũi nhọn được nâng cao (các kỳ thi, phong trào thi đua của ngành giáo dục tỉnh tỷ lệ học sinh tham gia đều đạt thứ hạng cao).
4.2. Văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông có bước phát triển nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống xã hội
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường. Các hoạt động văn hoá, thông tin, tuyên truyền đã bám sát nhiệm vụ chính trị, có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức; góp phần đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá gắn với xây dựng nếp sống văn minh đô thị, xây dựng nông thôn mới được triển khai sâu rộng thu hút đông đảo nhân dân tham gia; các chỉ tiêu về cơ quan, gia đình, xóm, làng, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Lĩnh vực văn hóa có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều phong trào, hoạt động xây dựng mô hình văn hóa ở cơ sở tiếp tục được triển khai đạt kết quả tốt; những giá trị, nét đẹp văn hoá truyền thống trong gia đình, họ tộc và cộng đồng dân cư được kế thừa, phát huy. Nếp sống văn hoá, văn minh đô thị, nhất là trong việc cưới, việc tang, tổ chức lễ hội có chuyển biến tiến bộ.
Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất dành cho thiết chế văn hóa thể thao. Thành phố đã đầu tư xây dựng các công trình văn hóa trọng điểm như: Quảng trường Võ Nguyên Giáp, Khu di tích lịch sử Quốc gia TNXP Đại đội 915; Trung tâm Văn hóa và Truyền thông thành phố; cải tạo, nâng cấp Nhà Thiếu nhi Thái Nguyên; xây dựng 13 trung tâm văn hóa - thể thao xã, phường; xây mới 53 nhà văn hóa xóm, tổ dân phố. Đến nay 100% các xóm, tổ dân phố có địa điểm sinh hoạt cộng đồng (tổng kinh phí từ nguồn ngân sách gần 180 tỷ đồng).
Công tác quản lý, bảo vệ tu bổ và khai thác phát huy giá trị văn hóa các di tích lịch sử trên địa bàn được tăng cường (triển khai dự án đầu tư cải tạo Nghĩa trang liệt sỹ Dốc Lim, Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ tỉnh Thái Nguyên, Đền thờ Đội Cấn). Hoạt động văn học, nghệ thuật, giao lưu văn hóa được đẩy mạnh, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Hoạt động báo chí, xuất bản, truyền thông tiếp tục phát triển và đạt kết quả tích cực, góp phần phát huy dân chủ, định hướng dư luận xã hội. Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh. Việc giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ ngày càng được quan tâm. Công tác xã hội hóa lĩnh vực thể dục thể thao được thực hiện có hiệu quả (đến năm 2020 có 35% người dân thành phố tập luyện thể dục - thể thao thường xuyên, các đoàn thể thao của thành phố tham dự các giải thể thao của tỉnh đều đạt nhất toàn đoàn, tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao thành phố lần thứ VII năm 2017).
Công tác phát thanh truyền hình có bước phát triển, chất lượng được nâng lên góp phần tích cực tuyên truyền, vận động, định hướng xã hội, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của thành phố.
4.3. Sự nghiệp y tế - dân số, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, chất lượng dịch vụ y tế được nâng cao
Công tác quản lý nhà nước về y tế - dân số được tăng cường. Thành phố đã triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu về y tế. Hệ thống y tế cơ sở và mạng lưới y tế dự phòng được củng cố, tăng cường cả về đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất và trang thiết bị. Chất lượng khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng ở tất cả các tuyến được nâng cao.
Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và phát triển hệ thống y tế dự phòng; chủ động triển khai các giải pháp phòng chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; không để xảy ra dịch bệnh và các vụ ngộ độc lớn trên địa bàn. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương và tỉnh Thái Nguyên, Thành phố đã chủ động triển khai kịp thời, đồng bộ và có nhiều giải pháp cụ thể làm tốt công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn (thành phố đã cấp 13,7 tỷ đồng phục vụ công tác phòng chống dịch, trong đó cấp miễn phí 1 triệu khẩu trang vải trị giá 10 tỷ đồng cho nhân dân, mua 6 tấn hóa chất, 4.800 lít thuốc khử trùng tiêu độc, với giá trị 3 tỷ đồng).
Củng cố, mở rộng Trung tâm y tế thành phố và các trạm y tế cơ sở, góp phần khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng tiêu chuẩn quản lý và kiểm tra chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh. Tiếp tục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế trình độ cao, tăng cường nhân lực y tế cơ sở. Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển y tế ngoài công lập. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân (hiện nay trên địa bàn có 14 bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến Tỉnh, trong đó có 04 bệnh viện tư nhân; có 265 phòng khám y tế tư nhân; toàn thành phố có trên 2.565 giường bệnh).
Công tác dân số gia đình được chú trọng; tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách về dân số, bảo đảm ổn định duy trì mức sinh thay thế và từng bước nâng cao chất lượng dân số.
4.4. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân
Chủ trương phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội luôn được coi trọng; các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội đối với người có công với cách mạng và các đối tượng bảo trợ xã hội được triển khai thực hiện có hiệu quả. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Thái Nguyên chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” được đẩy mạnh; đã huy động được nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia góp phần trợ giúp người nghèo, người bị ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh, người có công với cách mạng... ổn định đời sống (giai đoạn 2015 - 2020 thành phố đã chi trên 70 tỷ đồng hỗ trợ từ nguồn ngân sách và huy động xã hội hóa). Đề án giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2020 được triển khai thực hiện đạt kết quả tích cực, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2,03% năm 2015 xuống còn 0,9% năm 2020; hộ cận nghèo từ 1,21% năm 2015 xuống còn 1,0% năm 2020.
Các chương trình, đề án, kế hoạch về đào tạo nghề, giải quyết việc làm phát triển thị trường lao động được thực hiện có hiệu quả; bình quân hằng năm giải quyết việc làm tăng thêm cho trên 4.800 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2020 đạt 76%. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện trong nhân dân tiếp tục mở rộng và phát triển.
Công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em được quan tâm thực hiện, đến nay trên 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm chăm sóc. Giai đoạn 2015 - 2020, trên 90% xã, phường đạt tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em; quyền của trẻ em ngày càng được đảm bảo. Triển khai thực hiện tốt chiến lược quốc gia bình đẳng giới và công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, tiếp tục triển khai có hiệu quả đề án phòng, chống ma túy; đến năm 2020 giảm số người nghiện 31,51% so với năm 2015 (vượt mục tiêu Nghị quyết).
4.5. Công tác dân tộc, tôn giáo
Trong nhiệm kỳ, các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số đã được thành phố triển khai kịp thời, đúng đối tượng và phát huy hiệu quả rõ rệt, góp phần vào thực hiện mục tiêu giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về tôn giáo có nhiều đổi mới, cụ thể, sâu sát hơn. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của công tác tôn giáo có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng, hiệu quả quản lý Nhà nước về tôn giáo được nâng cao. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn ổn định, đúng pháp luật. Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh có hiệu quả đối với các tổ chức và cá nhân lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động bất hợp pháp trên địa bàn.
5. Cải cách hành chính tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước được nâng lên
Xác định công tác cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm; Đảng bộ thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 của Trung ương và của tỉnh. Tiếp tục triển khai Đề án Cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân và nhân dân trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút lao động, giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách xã hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Thực hiện tốt việc công khai, minh bạch 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết tại Bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân các phường, xã, Cổng thông tin điện tử thành phố. Quan tâm đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước. Triển khai đưa vào hoạt động dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 với 158 thủ tục hành chính, trong đó 13 thủ tục hành chính mức độ 4; đã có 2.639 hồ sơ được giải quyết thông qua dịch vụ công trực tuyến. Đầu tư và đưa vào triển khai hệ thống hội nghị trực tuyến giữa Ủy ban nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân 32 xã phường. Hoàn thành việc kết nối liên thông Cổng dịch vụ công trực tuyến giữa các xã, phường với Ủy ban nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Năm 2018, đã triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015. Công tác kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện thường xuyên; rà soát đề nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các thủ tục hành chính trình cấp thẩm quyền phê duyệt.
Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, cải tiến chế độ làm việc; năng lực, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính và cán bộ công chức trong giải quyết công việc được nâng lên. Thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công. Triển khai thực hiện việc rà soát, sắp xếp lại các phòng, ban, đơn vị trực thuộc theo đúng tinh thần Nghị quyết số 18, 19 của Ban Chấp hành Trung ương. Tiến hành chuyển đổi mô hình Ban quản lý dịch vụ công ích đô thị từ đơn vị sự nghiệp công lập nhà nước đảm bảo chi thường xuyên sang tự chủ tài chính; thành lập Ban quản lý thực hiện dự án xây dựng cấp bách hệ thống chống lũ lụt sông Cầu kết hợp hoàn thiện hạ tầng đô thị hai bên bờ sông Cầu; xây dựng đề án chuyển đổi Đội quản lý trật tự xây dựng và giao thông thành phố từ đơn vị sự nghiệp công lập nhà nước đảm bảo chi thường xuyên sang tự chủ tài chính trình cấp thẩm quyền phê duyệt. Qua rà soát sắp xếp đã giảm được 3 đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện tinh giản 10% biên chế so với đầu nhiệm kỳ.
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; xác định rõ vị trí việc làm của từng chức danh cán bộ, công chức. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được chuẩn hóa theo quy định. Đến năm 2020, 100% cán bộ, công chức cấp thành phố có trình độ từ Đại học trở lên.
Chất lượng các phong trào thi đua yêu nước được nâng lên, đã kịp thời động viên, khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc. Triển khai thực hiện tốt công tác kiểm tra công vụ đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.
6. An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; quốc phòng và quân sự địa phương ngày càng được củng cố; công tác nội chính, hoạt động đối ngoại, hợp tác phát triển tiếp tục được đẩy mạnh
6.1. Công tác quốc phòng, quân sự địa phương
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng được chú trọng và đạt kết quả toàn diện. Nhiệm vụ giáo dục và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh được thực hiện thường xuyên, đạt chất lượng tốt. Duy trì nghiêm chế độ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng vũ trang thành phố. Quản lý Nhà nước về quốc phòng trên địa bàn được tăng cường; kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ thành phố và hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập chiến đấu phòng thủ các xã, phường. Phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng quân đội và công an, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phát huy được vai trò là lực lượng nòng cốt, xung kích trong phòng, chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn, dịch bệnh. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, nhất là các chế độ chính sách mới được ban hành. Hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân (1.603 công dân nhập ngũ, trong đó nhập ngũ vào quân đội 1.435 công dân, nhập ngũ vào công an 168 công dân).
6.2. Công tác bảo đảm an ninh trật tự
Thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nhà nước về an ninh trật tự; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Hiệu lực quản lý Nhà nước về an ninh trật tự được tăng cường. Chỉ đạo đấu tranh vô hiệu hóa hoạt động của các tổ chức phản động, khủng bố, giữ ổn định an ninh trật tự trước tình hình, diễn biến phức tạp của Biển Đông. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được duy trì và ngày càng đi vào chiều sâu. Đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân tham gia vào chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội. Lực lượng Công an chủ động nâng cao chất lượng công tác nắm, dự báo, phân tích, đánh giá tình hình, tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, triển khai các biện pháp, giải quyết tốt các vấn đề liên quan an ninh trật tự. Đã hoàn thành việc bố trí công an chính quy đảm nhận các chức danh công an xã theo chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh.
Công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự được thực hiện có hiệu quả; đã mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn; tập trung đấu tranh quyết liệt với các ổ, nhóm tội phạm hình sự, tội phạm về ma túy, góp phần kiềm chế và làm giảm phạm pháp hình sự. Tỷ lệ điều tra khám phá án hằng năm trung bình đạt trên 75%; tỷ lệ giải quyết tin báo tố giác tội phạm đạt trên 90%. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn giao thông, trật tự công cộng, kiềm chế và giảm tai nạn giao thông trên địa bàn.
Công tác phòng chống ma túy được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Tiếp tục triển khai Đề án phòng chống ma túy trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2020 đạt được những kết quả tích cực. Đã chủ động đấu tranh quyết liệt, kịp thời bắt giữ, xử lý nghiêm tội phạm ma túy theo quy định.
6.3. Công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được thực hiện thường xuyên và có những chuyển biến rõ nét. Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được nâng lên. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng; công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan đơn vị được đẩy mạnh; việc kê khai tài sản, thu nhập thực hiện đúng quy định. Thực hiện nghiêm các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, báo chí và nhân dân trong công tác phòng, chống tham nhũng được phát huy. Công tác phối hợp giữa các cơ quan nội chính với cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng được thực hiện thường xuyên. Các vụ án tham nhũng được điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Xây dựng chương trình công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí hằng năm để chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
6.4. Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy chính quyền, cơ quan, đơn vị nhất là người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được nâng lên; các cuộc tiếp xúc, đối thoại với nhân dân thường xuyên được tổ chức để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải đáp kiến nghị, phản ánh của nhân dân, nhất là đối với những vụ việc phức tạp hoặc tại các địa bàn chuẩn bị triển khai các dự án phát triển kinh tế xã hội. Thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân. Thành ủy đã ban hành Quy chế Bí thư Thành ủy tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân.
Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo ngay từ cơ sở, hạn chế tình trạng đơn thư vượt cấp. Thường xuyên kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, đông người để tập trung xử lý, giải quyết dứt điểm. Các vụ việc khiếu nại, tố cáo được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và công dân, giữ nghiêm kỷ cương pháp luật. Kết quả giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của thành phố hằng năm đạt 90%.
6.5. Công tác cải cách tư pháp
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy về công tác cải cách tư pháp được Đảng bộ thành phố quán triệt thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời, hiệu quả. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ tư pháp được chú trọng. Việc nâng cao chất lượng công tác trong các cơ quan tư pháp đã thực sự phát huy được hiệu quả. Công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có nhiều chuyển biến tích cực. Sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp được tăng cường, đã giải quyết được nhiều vụ việc tồn đọng, bức xúc và đưa ra xét xử nhiều vụ án điểm được dư luận xã hội quan tâm.
6.6. Hoạt động đối ngoại
Công tác đối ngoại, hợp tác, hội nhập phát triển của thành phố tiếp tục được đẩy mạnh toàn diện và đạt kết quả tốt. Hoạt động đối ngoại nhân dân được mở rộng. Thành phố đã chủ động, tích cực, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, của tỉnh, sự phối hợp của các sở, ban, ngành; mở rộng quan hệ hợp tác cùng phát triển trên các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh giữa thành phố với các huyện, thành trong và ngoài tỉnh, các đô thị trong Cụm đô thị vùng Đông Bắc và Hiệp hội các đô thị Việt Nam, các tổ chức quốc tế đạt kết quả tốt. Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công hội nghị thường niên và hội thảo chuyên đề về phát triển đô thị Cụm đô thị vùng Đông Bắc năm 2017 tại thành phố Thái Nguyên.
Hoạt động quảng bá, giới thiệu các tiềm năng, thế mạnh của thành phố Thái Nguyên được chú trọng. Công tác thông tin đối ngoại được triển khai thực hiện tích cực. An ninh đối ngoại của thành phố cơ bản được bảo đảm.
III. KẾT QUẢ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, tạo chuyển biến tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng cao
1.1. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được quan tâm tâm thực hiện thường xuyên, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng bộ. Chỉ đạo quán triệt, hướng dẫn triển khai tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng tiếp tục được đổi mới, bảo đảm thiết thực, hiệu quả.
Việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng và chỉnh đốn Đảng; các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã góp phần nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Công tác thông tin, tuyên truyền, nắm bắt và định hướng báo chí, truyền thông, dư luận xã hội có nhiều đổi mới. Công tác khoa giáo, giáo dục lý luận chính trị tiếp tục được coi trọng và đạt được nhiều kết quả. Việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được coi trọng, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Công tác biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử truyền thống địa phương, cơ quan, đơn vị được quan tâm. Hoàn thành nghiên cứu, biên soạn xuất bản cuốn Lịch sử Đảng bộ thành phố Thái Nguyên (1946 - 2020).
1.2. Công tác tổ chức xây dựng Đảng
Công tác tổ chức xây dựng Đảng tiếp tục được các cấp ủy tập trung chỉ đạo, đã bám sát nhiệm vụ trọng tâm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Tập trung xây dựng đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ; quy chế làm việc của các cấp ủy được thực hiện nghiêm túc, nội dung, chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ được nâng lên; tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng được coi trọng; dân chủ trong Đảng tiếp tục được phát huy.
Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố đã xây dựng, triển khai thực hiện 02 đề án về “Phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước, giai đoạn 2016 - 2020” và “Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí và sử dụng cán bộ diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý giai đoạn 2017 - 2020”. Tiến hành tổng kết các nghị quyết Trung ương, của tỉnh về công tác tổ chức xây dựng Đảng bảo đảm theo đúng kế hoạch đề ra. Tập trung đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
Công tác quản lý cán bộ được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, đúng quy trình, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được thực hiện gắn với quy hoạch cán bộ và xây dựng kế hoạch cụ thể. Chú trọng cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công tác. Số cán bộ có trình độ đạt chuẩn tăng so với nhiệm kỳ 2010 - 2015. Đến nay, 100% cán bộ là trưởng, phó phòng, ban của thành phố có trình độ chuyên môn đại học, lý luận chính trị trung cấp trở lên; 100% cán bộ lãnh đạo xã, phường có trình độ chuyên môn và lý luận chính trị trung cấp trở lên, trong đó có 88,2% có trình độ chuyên môn đại học.
Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên được quan tâm; việc đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm được tiến hành có nền nếp. Kết quả phân loại hằng năm có trên 98% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; trên 85% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trong đó có 15% đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Công tác phát triển đảng viên được các cấp ủy chú trọng cả về số lượng và chất lượng, nhất là phát triển đảng viên trong đội ngũ trí thức, học sinh, sinh viên và doanh nghiệp; trong nhiệm kỳ đã kết nạp 2.064 đảng viên mới.
Việc thực hiện chính sách cán bộ đảm bảo kịp thời, đúng chế độ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm chỉ đạo và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, nhất là trong quản lý cán bộ, đảng viên khi đi nước ngoài và thẩm định tiêu chuẩn chính trị phục vụ phát triển đảng, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm giới thiệu để bầu vào cấp ủy, làm cán bộ chủ chốt, nhân sự bầu cử đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2016 - 2021 và làm việc ở cơ quan, bộ phận, vị trí trọng yếu cơ mật đảm bảo đúng quy định.
1.3. Việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng
Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường và thực hiện có hiệu quả, tập trung vào một số nội dung trọng tâm, như: Việc quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII); công tác quản lý đất đai, tài chính, quy hoạch đô thị, dự án đầu tư, công tác tổ chức cán bộ, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua kiểm tra, giám sát, đã phát hiện các nhân tố tích cực để nhân rộng, những bất cập trong quản lý, điều hành để chấn chỉnh và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Đảng đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổ chức thực hiện hiệu quả các đề án của Tỉnh ủy và Thành ủy về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; chú trọng việc xây dựng, ban hành các quy định, quy chế, quy trình trong công tác kiểm tra, giám sát. Tăng cường giám sát thường xuyên, công tác tự kiểm tra từ cơ sở; áp dụng nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả tuyên truyền và nhận thức của cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát; quan tâm xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ kiểm tra đảm bảo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.
Ban Thường vụ Thành ủy đã tổ chức 32 cuộc kiểm tra, 13 cuộc giám sát chuyên đề đối với 269 lượt cấp ủy, 173 đảng viên và khảo sát trực tiếp 15 lượt tại Ủy ban nhân dân thành phố, các cơ quan, đơn vị liên quan. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy đã tổ chức thực hiện 15 cuộc kiểm tra, 05 cuộc giám sát chuyên đề đối với 84 tổ chức đảng, 43 đảng viên và thực hiện đảm bảo các nhiệm vụ của Ủy ban Kiểm tra theo Điều 32, Điều lệ Đảng. Cấp ủy cơ sở đã thực hiện 622 cuộc kiểm tra, 574 cuộc giám sát chuyên đề đối với 2.375 lượt tổ chức đảng, 408 lượt đảng viên. Ủy ban kiểm tra cấp cơ sở đã tổ chức thực hiện được 361 cuộc kiểm tra, 313 cuộc giám sát đối với 1.723 lượt tổ chức đảng và 309 đảng viên.
Việc thi hành kỷ luật đảng và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng được thực hiện đảm bảo quy trình, quy định. Số đảng viên vi phạm phải xem xét xử lý kỷ luật là 119 đảng viên, trong đó hình thức kỷ luật khiển trách 44; cảnh cáo 27; cách chức 5; khai trừ 43. Trong đó, cán bộ diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý bị xử lý kỷ luật là 14 đồng chí, cán bộ diện cấp ủy cơ sở quản lý bị xử lý kỷ luật là 13 đồng chí. Các đơn thư của công dân, đảng viên đã được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đảm bảo quy trình, quy định đã góp phần ổn định tình hình ở đơn vị, địa phương, cơ sở.
Công tác kiểm tra, giám sát trong những năm qua đã góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất giữ nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ.
1.4. Công tác dân vận
Công tác dân vận được quan tâm và đạt kết quả tích cực. Hệ thống dân vận từ Thành phố đến cơ sở được củng cố, kiện toàn, chất lượng hoạt động được nâng lên. Công tác dân vận của chính quyền và lực lượng vũ trang được tăng cường. Việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng và chỉ đạo quyết liệt, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước tạo đồng thuận, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Việc phối hợp công tác dân vận giữa các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả.
100% các xóm, tổ dân phố đã thành lập tổ dân vận; phong trào thi đua “Dân vận khéo” được triển khai hiệu quả. Tăng cường các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp và nhân dân theo Quyết định số 217, 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị và các quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Hằng năm, cấp ủy đảng, chính quyền thành phố và cơ sở đã tổ chức hội nghị tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với cán bộ, đảng viên và nhân dân; chỉ đạo các xã, phường tổ chức đối thoại để kịp thời chỉ đạo xử lý, giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh tại cơ sở. Việc nắm bắt tình hình nhân dân, tình hình dân tộc, tôn giáo và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Công tác dân vận tại địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo và có các dự án liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng được chú trọng quan tâm.
2. Hệ thống chính quyền hoạt động theo Luật tổ chức chính quyền địa phương, ngày càng phát huy hiệu lực, hiệu quả
2.1. Hoạt động của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân các cấp được kiện toàn về tổ chức, việc bố trí đại biểu hoạt động chuyên trách được đảm bảo theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp đã có nhiều đổi mới, chất lượng, hiệu quả từng bước được nâng lên. Các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nước được cụ thể hóa thành các cơ chế trong xây dựng và ban hành nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố được ban hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và phù hợp với điều kiện thực tiễn thành phố Thái Nguyên; đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của cử tri và nhân dân. Qua đó phát huy được vai trò, trách nhiệm, hiệu quả hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Hội đồng nhân dân thành phố đã tổ chức thành công 14 kỳ họp, ban hành 85 nghị quyết, trong đó có 50 nghị quyết thường kỳ, 04 nghị quyết chuyên đề và 31 nghị quyết cề công tác tổ chức cán bộ.
Thực hiện chức năng giám sát, ngoài hoạt động giám sát thường xuyên theo quy định, Thường trực Hội đồng nhân dân, hai ban Hội đồng nhân dân đã tổ chức 26 cuộc giám sát chuyên đề và 07 cuộc giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới các kỳ họp. Qua giám sát, những ý kiến kiến nghị của đoàn giám sát và ý kiến kiến nghị của cử tri được quan tâm giải quyết kịp thời từ đó đã tạo niềm tin, sự phấn khởi của cử tri và nhân dân với các cấp chính quyền thành phố Thái Nguyên. Tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân thành phố đã có 41 ý kiến chất vấn, nội dung chất vấn đều là những vấn đề được cử tri và nhân dân thành phố quan tâm. Kỳ họp thứ 10, Hội đồng nhân dân thành phố đã thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu theo quy định.
Để chuẩn bị cho các kỳ họp, Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố tổ chức tiếp xúc cử tri tại 114 điểm xã, phường và khu dân cư với 18.177 đại biểu cử tri tham dự, tiếp thu 1.094 ý kiến, kiến nghị để chuyển đến cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết. Thường trực Hội đồng nhân dân bố trí cho các đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân theo quy định, đã tiếp nhận 122 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đã có văn bản chuyển đến các cơ quan liên quan xem xét, giải quyết theo quy định.
2.2. Hoạt động của Ủy ban nhân dân
Hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp đã bám sát chỉ đạo của cấp ủy, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; có nhiều đổi mới, năng lực quản lý, điều hành và hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên. Ủy ban nhân dân Thành phố đã lựa chọn chủ đề công tác cho từng năm, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm và các khâu đột phá để tập trung chỉ đạo thực hiện hiệu quả. Quá trình chỉ đạo, điều hành đã tập trung vào các nhiệm vụ lớn, quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, đặc biệt là việc xây dựng và tổ chức triển khai có hiệu quả các quy hoạch, chương trình, đề án, quản lý sử dụng đất đai, thu chi ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, phòng chống thiên tai, dịch bệnh và thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra theo quy định.
Triển khai thực hiện nghiêm quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân thành phố khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016 - 2021, nâng cao chất lượng cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính Nhà nước. Xác định rõ và cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính theo quy định. Hằng năm, tổ chức ký kết và triển khai có hiện quả Quy chế phối hợp hoạt động giữa Ủy ban nhân dân thành phố với Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của thành phố.
3. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tiếp tục có nhiều đổi mới
Chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội các cấp có nhiều đổi mới nội dung, hình thức tạo được sự lan tỏa trong xã hội. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ của MTTQ và đoàn thể các cấp, nhất là cấp cơ sở và tổ chức đoàn thể ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước được tăng cường. Nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước được tổ chức sâu rộng, thiết thực, hiệu quả, tập hợp được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tạo đồng thuận xã hội, góp phần tích cực cùng chính quyền các cấp giải quyết thành công nhiều khó khăn vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các dự án lớn trên địa bàn.
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội được tăng cường và đi vào chiều sâu, trọng tâm là việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; tham gia đóng góp nhiều ý kiến quan trọng xây dựng các chủ trương lớn về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên được quan tâm bảo vệ. Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng chặt chẽ, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân thành phố.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã chú trọng xây dựng, củng cố tổ chức. Đến nay, tỷ lệ đoàn viên, hội viên tham gia sinh hoạt trong các tổ chức chính trị - xã hội đạt bình quân trên 80%.
Công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội với chính quyền trong thực hiện công tác vận động quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh; phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, việc tiếp công dân; đẩy mạnh việc tiếp xúc, đối thoại định kỳ, đột xuất với nhân dân để kịp thời giải quyết những ý kiến, nghị của cử tri, của nhân dân ngay từ cơ sở.
IV. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG THÀNH TỰU
- Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đảng bộ thường xuyên nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Trung ương và của tỉnh Thái Nguyên; sự phối hợp, giúp đỡ kịp thời, có hiệu quả của các sở, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương trong tỉnh.
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVII đã xác định đúng mục tiêu, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; đề ra mục tiêu và có các giải pháp cụ thể, tích cực, tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển.
- Tập thể Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy đoàn kết, thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị; luôn nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm nêu gương, tinh thần tự giác, trách nhiệm của tập thể và cá nhân; thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy.
- Bám sát Nghị quyết Đại hội, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và nhân dân để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
B. NHỮNG HẠN CHẾ, TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN
I. HẠN CHẾ, TỒN TẠI
1. Về kinh tế - xã hội
- Phát triển dịch vụ, du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Các ngành công nghiệp công nghệ cao chưa phát triển mạnh. Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và tạo thành chuỗi giá trị còn hạn chế. Chất lượng sản phẩm, giá trị thương hiệu, sức cạnh tranh của một số doanh nghiệp còn thấp.
- Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Tình trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, môi trường, xây dựng vẫn còn diễn ra ở một số ít xã, phường. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tuy đã được chỉ đạo tích cực và quyết liệt, nhưng chưa đảm bảo yêu cầu tiến độ của một số dự án, công trình trọng điểm.
- Lĩnh vực văn hóa - xã hội phát triển chưa tương xứng với vị trí, vai trò của đô thị trung tâm vùng; nếp sống văn hóa, trật tự, kỷ cương, văn minh đô thị có mặt còn hạn chế. Khoa học và công nghệ phát triển chưa tương xứng với lợi thế, tiềm năng, chưa phát huy được vai trò là động lực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
- Tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy còn diễn biến phức tạp; tai nạn giao thông mặc dù giảm cả 3 tiêu chí (số vụ, số người bị thương, số người chết) song hậu quả còn nghiêm trọng.
2. Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế. Việc xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện chỉ thị, nghị quyết ở một số cơ sở còn chậm, chưa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị.
- Chất lượng sinh hoạt ở một số tổ chức cơ sở đảng chưa cao; việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng ở một số chi bộ chưa tốt, còn có cán bộ, đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật. Công tác phát triển đảng viên mới, xây dựng tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước còn gặp nhiều khó khăn.
- Công tác công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể ở một số cơ sở còn hạn chế.
- Một số cấp ủy cơ sở công tác kiểm tra, giám sát hiệu quả chưa cao, công tác kiểm tra dấu hiệu vi phạm với tổ chức, đảng viên còn ít, việc chủ động phát hiện xử lý vi phạm về kinh tế chưa nhiều.
- Tỷ lệ tập hợp quần chúng vào tổ chức đoàn thể nhân dân trong doanh nghiệp còn chưa cao. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cấp cơ sở còn ít, hiệu quả chưa cao.
II. NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ, TỒN TẠI
1. Nguyên nhân khách quan
- Tình hình kinh tế, chính trị, an ninh trên thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Cơ chế, chính sách trong một số lĩnh vực như đất đai, môi trường… chưa đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung.
- Chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước thường xuyên thay đổi theo chiều hướng có lợi cho người có đất bị thu hồi, nên một bộ phận người dân có đất thu hồi cố tình kéo dài thời gian giải phóng mặt bằng. Ý thức chấp hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số bộ phận người dân chưa cao; nguồn lực tài chính của một số nhà đầu tư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng một số dự án còn hạn chế.
- Một bộ phận tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm pháp luật; khi bị các cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm thường có hành vi chống đối, bất hợp tác, phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài gây khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết một số vụ việc tồn đọng trên địa bàn.
2. Nguyên nhân chủ quan
- Tính chủ động trong công tác tham mưu, phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ của một số ít phòng, ban, đơn vị, phường, xã còn hạn chế.
- Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong thực thi công vụ chưa đáp ứng yêu cầu.
- Một số cấp ủy cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến công tác kiểm tra, giám sát; công tác tham mưu của ủy ban kiểm tra đảng ủy ở một số cơ sở còn hạn chế.
- Công tác phối hợp về công tác dân vận ở một số ít cơ sở có lúc, có nơi chưa chặt chẽ; công tác nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình nhân dân có việc chưa kịp thời, sâu sát.
C. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Thái Nguyên lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đảng bộ thành phố rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, Quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, vận dụng sáng tạo để cụ thể hóa phù hợp với thực tiễn ở địa phương, đơn vị. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu trong công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, các ban, bộ, ngành của Trung ương, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; sự phối hợp, giúp đỡ của các sở, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương trong tỉnh; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường kiểm tra, giám sát.
Hai là, Bám sát thực tiễn, dự báo đúng tình hình, chủ động giải quyết những vấn đề mới phát sinh; lắng nghe, tiếp thu ý kiến xây dựng, phản biện tích cực của nhân dân để kịp thời xác định, xây dựng và điều chỉnh chủ trương, cơ chế, biện pháp cho phù hợp. Coi trọng kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tích cực cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc; lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ công của việc xây dựng hệ thống chính trị kiến tạo phát triển và phục vụ.
Ba là, Phát huy truyền thống cách mạng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tập trung sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra; tiếp thu và phát triển thành tựu, kinh nghiệm của các khóa trước, tập trung cao cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành; gắn với trách nhiệm thực thi nhiệm vụ. Trong từng giai đoạn và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, phải lựa chọn đúng và tập trung lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm tạo đột phá gắn kết chặt chẽ các mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản, lâu dài với chỉ đạo thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ cấp bách, trước mắt, tạo tiền đề và động lực phát triển nhanh và bền vững.
Bốn là, Thường xuyên quan tâm xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên gắn với đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng bộ.
Năm là, Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; chăm lo xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên; quan tâm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, bố trí và sử dụng cán bộ đúng năng lực, sở trường; đặc biệt là phát huy sức mạnh tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHIỆM KỲ 2020 - 2025
Dự báo trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ tạo bước đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra thời cơ thuận lợi đồng thời cũng đặt ra những khó khăn thách thức mới.
Những thành tựu đạt được sau gần 60 năm xây dựng, phát triển thành phố và gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng tạo tiền đề rất quan trọng để thành phố Thái Nguyên tiếp tục đổi mới và phát triển trong thời gian tới.
A. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, GIỮ VỮNG QUỐC PHÒNG, AN NINH; ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO, HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC, XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG THEO HƯỚNG VĂN MINH, HIỆN ĐẠI
II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
1. Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh thu hút đầu tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Phấn đấu mức tăng trưởng của các ngành sản xuất giai đoạn 2020 - 2025 trên 15%/năm.
2. Triển khai thực hiện Quy hoạch tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục chú trọng, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch. Trên cơ sở Quy hoạch chung đô thị đã được phê duyệt, chỉ đạo triển khai lập, điều chỉnh quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết các khu đô thị, khu dân cư và các khu chức năng khác trong đô thị; điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng các xã nông thôn. Ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời huy động có hiệu quả các nguồn lực của xã hội đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch, trong đó tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng khung đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, nhất là hệ thống giao thông - vận tải, hệ thống thoát nước, hệ thống các công trình văn hoá - thể thao - vui chơi công cộng phục vụ cộng đồng... Kiểm soát có hiệu quả quá trình phát triển đô thị, đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, phù hợp với quy hoạch. Sẵn sàng ứng phó linh hoạt, hiệu quả đối với diễn biến phức tạp về thiên tai, dịch bệnh, giữ vững tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.
3. Phát huy sức mạnh, giá trị văn hóa, con người thành phố Thái Nguyên trong thời kỳ mới. Tiếp tục phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo. Tạo bước chuyển biến trong xây dựng văn hóa, con người thành phố Thái Nguyên văn minh, thanh lịch. Xây dựng cộng đồng xã hội dân chủ, đồng thuận, kỷ cương, đoàn kết.
4. Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chiến lược cải cách tư pháp, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trong đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; giải quyết kịp thời các tình huống, không để bị động, bất ngờ; không để xảy ra “điểm nóng” về an ninh trật tự, không để khiếu kiện đông người, phức tạp.
5. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tạo sự chuyển biến hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ, nhất là tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên.
III. CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ
1. Đẩy mạnh thu hút đầu tư, tập trung nguồn lực phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các dự án, công trình trọng điểm tạo bước đột phá trong phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại.
2. Xây dựng chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao ý thức, trách nhiệm và chất lượng phục vụ nhân dân. Lấy cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử là khâu đột phá.
3. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Phấn đấu xây dựng thành phố Thái Nguyên trở thành đô thị trung tâm vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.
IV. CHỈ TIÊU CHỦ YẾU ĐẾN NĂM 2025
(1) Tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất bình quân 5 năm 2021 - 2025 tăng trên 15%. Trong đó, tốc độ tăng của ngành dịch vụ trên 18%; tốc độ tăng của ngành công nghiệp, xây dựng trên 12%; tốc độ tăng của ngành nông nghiệp trên 5%.
(2) Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương đến năm 2025 đạt 9.700 tỷ đồng (theo giá cố định năm 2010).
(3) Thu ngân sách nhà nước theo phân cấp được giao bình quân hằng năm tăng trên 10% (không tính thu tiền sử dụng đất).
(4) Đến năm 2025, giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt đạt 180 triệu đồng; giá trị thu nhập trên 1 ha đất trồng chè đạt trên 1 tỷ đồng.
(5) Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 78%, trong đó có văn bằng, chứng chỉ đạt 35%. Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 0,9%; hộ cận nghèo xuống còn 1,0%. Quản lý 100% người nghiện có mặt trên địa bàn. Phấn đấu đến 2025 giảm trên 15% số người nghiện ma túy.
(6) Củng cố vững chắc, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các cấp học. Duy trì phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, THCS mức độ 3. Phấn đấu đến năm 2025 có 90% trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học công lập đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ huy động trẻ lứa tuổi nhà trẻ đến trường đạt 40%.
(7) Có 96,5% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đăng ký đạt chuẩn văn hoá; 96,5% gia đình văn hóa; 89% xóm, tổ dân phố văn hóa; 97% xóm, tổ dân phố (liên tổ) có nhà văn hoá. Duy trì 100% xã, phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế.
(8) Phấn đấu 100% diện tích đất nội thành được quy hoạch phân khu; 50% diện tích đất nội thành được quy hoạch chi tiết; 98,5% dân số khu vực nội thành được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; 100% lượng chất thải rắn đô thị và chất thải rắn y tế được thu gom, xử lý hợp vệ sinh; 80 km đường đô thị được ngầm hoá hệ thống hạ tầng kỹ thuật.
(9) Hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân, huấn luyện cho lực lượng vũ trang thành phố, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu hằng năm giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết, số người bị thương.
(10) Hằng năm có 85% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; 85% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó có từ 15% đến 20% đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kết nạp từ 2.000 đảng viên mới trở lên. 100% cán bộ, công chức, viên chức đạt chuẩn về trình độ theo quy định.
B. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
I. ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ, PHÁT TRIỂN KINH TẾ; NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1. Đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển kinh tế
Lãnh đạo, chỉ đạo triển khai kịp thời, có hiệu quả các cơ chế, chính sách của Trung ương và của Tỉnh về phát triển kinh tế. Chủ động ban hành các chương trình, kế hoạch, đề án sát với tình hình thực tiễn của địa phương nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng, phát triển kinh tế thành phố theo hướng nhanh và bền vững.
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư về hạ tầng, quy hoạch, đất đai, thủ tục hành chính, nguồn nhân lực, an ninh trật tự. Khuyến khích và ưu tiên thu hút các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng khu đô thị, hạ tầng các cụm công nghiệp); du lịch, dịch vụ (trung tâm thương mại, khách sạn 5 sao); các ngành, sản phẩm công nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, giải quyết việc làm (Công nghệ thông tin, công nghiệp điện tử, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông, lâm sản).
Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư; chủ động thông tin, quảng bá về tiềm năng, thế mạnh của thành phố đến các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đẩy mạnh công tác đối ngoại, tích cực tham gia các hội nghị xúc tiến đầu tư; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Doanh nghiệp thành phố, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết phát triển. Gắn kết chặt chẽ các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo, trung tâm nghiên cứu của các trường thuộc Đại học Thái Nguyên với các đơn vị sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.
2. Nâng cao chất lượng dịch vụ - thương mại, khẳng định vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế
Phát triển mạnh khu vực dịch vụ, nhất là các dịch vụ có tiềm năng, lợi thế; hình thành các sản phẩm dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao, hướng tới nâng dần các dịch vụ cao cấp, chất lượng cao, tăng tỷ trọng dịch vụ trong khu vực kinh tế tư nhân.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ, thương mại, du lịch. Đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành và đưa vào sử dụng các dự án dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực như: Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, văn hóa tâm linh tại khu vực phía Tây và phía Bắc thành phố; các tổ hợp thương mại, dịch vụ, sân golf. Rà soát, bổ sung, mở rộng các tua, tuyến du lịch trên địa bàn kết nối với các khu, điểm du lịch và di tích lịch sử văn hóa của tỉnh và khu vực. Huy động nguồn lực đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng du lịch trên địa bàn.
Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ như logistic, dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính - ngân hàng, mạng lưới bán buôn, bán lẻ hàng hóa, dịch vụ đáp ứng sản xuất và nhu cầu của nhân dân.
Nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm, hàng hóa lợi thế, nhất là các sản phẩm truyền thống, đặc trưng; tích cực tham gia vào chuỗi liên kết, phân phối sản phẩm trong tỉnh và khu vực. Khuyến khích đầu tư, chế biến các sản phẩm có giá trị cao chiết xuất từ chè; mở rộng thị trường, nâng cao thương hiệu sản phẩm chè đặc sản Tân Cương.
3. Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường
Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp theo quy hoạch tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp của cả nước, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Thủ đô Hà Nội, gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển của các ngành. Phát triển công nghiệp gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng của Chính phủ; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên các nhóm ngành sử dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm công nghệ cao, lắp ráp linh kiện điện tử, công nghệ sạch, chế biến sâu, xử lý chất thải công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, thiết kế và sản xuất sản phẩm thời trang may mặc… Phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp, lập quy hoạch các cụm công nghiệp mới, tăng cường thu hút các dự án đầu tư lớn, trọng điểm. Phát triển công nghiệp gắn với các ngành nghề sản xuất, chế biến nông, lâm nghiệp ở khu vực nông thôn. Tiếp tục cải tạo và di chuyển một số cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu vực trung tâm thành phố.
4. Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. Rà soát, điều chỉnh, chuyển đổi diện tích đất rừng, đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao. Chỉ đạo triển khai thực hiện tốt kế hoạch sản xuất nông nghiệp hằng năm, trong đó ưu tiên hỗ trợ, khuyến khích sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, sử dụng giống cây trồng, vật nuôi mới. Tiếp tục đầu tư và định hướng mở rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch; các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung quy mô lớn với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trong khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu và làng nghề, làng nghề truyền thống, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo và phát triển kinh tế khu vực nông thôn.
Tập trung xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia, quốc tế đối với một số sản phẩm nông sản chủ đạo nhất là vùng chè đặc sản Tân Cương. Đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã; tăng cường quảng bá, xúc tiến thương mại, hợp tác liên kết chặt chẽ giữa các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp gắn với truy xuất nguồn gốc.
Tiếp tục quy hoạch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, xây dựng xóm, xã nông thôn mới kiểu mẫu; nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới gắn với bảo vệ môi trường trong khu vực nông thôn.
5. Nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, ngân hàng
Thực hiện có hiệu quả các chính sách tài chính, tín dụng của Chính phủ phát triển sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Phối hợp khai thác, phát huy có hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính, ngân hàng trên địa bàn. Tăng cường thực hiện tốt công tác quản lý thu ngân sách, các biện pháp chống thất thu thuế, xử lý nợ đọng, chống buôn lậu, trốn thuế, chống gian lận thương mại. Kiểm tra, rà soát thu đúng, thu đủ các loại phí, lệ phí và các sắc thuế khác; đẩy mạnh thực hiện đấu giá thu tiền sử dụng đất. Quản lý chặt chẽ tài sản công. Phấn đấu thu ngân sách nhà nước theo phân cấp được giao bình quân hằng năm tăng trên 10% (không tính thu tiền sử dụng đất).
Nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách Nhà nước, tăng tỷ lệ chi ngân sách cho đầu tư phát triển, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, ODA, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác. Đảm bảo chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển, thực hiện nghiêm các quy định về tiết kiệm, chống lãng phí đáp ứng nhiệm vụ chính trị của thành phố. Tiếp tục thực hiện việc giao quyền tự chủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập, tăng số lượng các đơn vị tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên theo quy định.
II. NÂNG CAO NĂNG LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH, XÂY DỰNG, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG; HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐÔ THỊ THEO HƯỚNG ĐỒNG BỘ, HIỆN ĐẠI
1. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng theo quy hoạch; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại
Chỉ đạo lập, rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết theo Quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên đến năm 2035 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Quy hoạch tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Phấn đấu đến năm 2025, 100% diện tích đất nội thành được quy hoạch phân khu; 50% diện tích đất nội thành được quy hoạch chi tiết. Nâng cao chất lượng các đồ án quy hoạch đô thị, đảm bảo tính khả thi và tầm nhìn dài hạn. Việc lập quy hoạch, quản lý quy hoạch đảm bảo đúng quy định hiện hành.
Chỉ đạo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng gắn với các kế hoạch đầu tư trung hạn, dài hạn và hằng năm. Ưu tiên bố trí ngân sách thành phố, đồng thời đẩy mạnh việc thu hút và huy động mọi nguồn lực đầu tư các dự án, công trình trọng điểm nâng cao tiêu chí kết cấu hạ tầng đô thị loại I; quan tâm đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới một số công trình như: Dự án Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2; Dự án Phát triển tổng hợp đô thị động lực - thành phố Thái Nguyên; các dự án hai bên bờ sông Cầu; các dự án phát triển hạ tầng Khu du lịch Hồ Núi Cốc; khu đô thị, khu dân cư, hệ thống giao thông tĩnh, cầu vượt, hệ thống thoát nước mưa chính cho khu vực nội thành; hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, hệ thống vườn hoa, công viên, cây xanh, khu vui chơi giải trí, hạ ngầm hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cải tạo vỉa hè, hệ thống điện chiếu sáng, cây xanh đô thị...
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn khác trên địa bàn. Tiếp tục xây dựng và triển khai có hiệu quả các đề án về quản lý đô thị. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng, tạo sự đồng thuận trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị, đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm về trật tự xây dựng, mỹ quan đô thị và vệ sinh môi trường.
2. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu
Tổ chức lập, trình thẩm định phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030, kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2020 - 2025 của thành phố Thái Nguyên và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo đất đai được bố trí sử dụng tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả đi đôi với bảo vệ môi trường, phát huy tối đa nguồn lực từ đất cho phát triển kinh tế, xã hội. Tăng cường quản lý đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện kịp thời nhằm ngăn chặn, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai. Rà soát để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 99,8% cho các hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện; 99,8% cho các tổ chức và nhà văn hóa.
Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật có sự kết nối đồng bộ giữa các khu dân cư đô thị và các khu dân cư nông thôn, cụm công nghiệp. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất kinh doanh vi phạm các quy định pháp luật về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước và bảo vệ môi trường. Nâng cao chất lượng lập, thẩm định hồ sơ bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư, các cơ sở sản xuất kinh doanh, không để các dự án đầu tư mới sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu gây ô nhiễm môi trường.
Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án về ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân và quản lý rủi ro thiên tai. Cải tạo, nâng cấp, đầu tư mới hệ thống đê kè sông, suối và các khu vực thường xuyên bị tác động của lũ ống, lũ quét và các hiện tượng thời tiết bất thường để chủ động ứng phó, hạn chế đến mức thấp nhất do biến đổi khí hậu. Tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành để thu hút các nguồn vốn đầu tư thực hiện các công trình, dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, dự án xây dựng đê, kè chống sạt lở bờ sông. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án xây dựng cấp bách hệ thống chống lũ lụt sông Cầu kết hợp hoàn thiện hệ thống đô thị hai bờ sông Cầu.
III. TẠO BƯỚC CHUYỂN BIẾN TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA, CON NGƯỜI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN VĂN MINH, THANH LỊCH
1. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ
Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường, lớp. Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các nhà trường theo hướng chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2018 - 2025” và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh về giáo dục, đào tạo bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Tiếp tục duy trì và củng cố vững chắc, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục của các cấp học, phổ cập giáo dục xóa mù chữ và trường đạt chuẩn quốc gia.
Nâng cao chất lượng giáo dục của các cấp học, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và thể chất cho học sinh, sinh viên.
Bảo đảm đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý giáo dục, công tác quản trị theo hướng tăng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục, đào tạo; mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong giáo dục và đào tạo. Tiếp tục xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh xã hội hóa để huy động các nguồn lực phát triển giáo dục.
Tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp để tăng năng suất, hiệu quả lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
2. Xây dựng văn hóa và con người thành phố Thái Nguyên đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới
Tiếp tục phát triển các lĩnh vực văn hoá gắn với phát triển kinh tế. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác văn hóa - thông tin, thể thao, báo chí, xuất bản. Tăng cường hoạt động thông tin - tuyên truyền phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của Tỉnh và thành phố; đồng thời tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh của thành phố nhằm phát triển du lịch gắn liền với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa địa phương.
Tiếp tục nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” gắn với xây dựng nếp sống văn minh đô thị, giữ gìn bản sắc văn hóa. Quản lý và khai thác có hiệu quả hệ thống các di tích lịch sử, danh thắng trên địa bàn. Tăng cường đầu tư xây dựng và huy động các nguồn lực hoàn thiện thiết chế văn hóa - thể thao từ thành phố đến cơ sở. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phát triển văn hóa, thể thao và du lịch, góp phần nâng cao thể chất và tinh thần cho người dân.
Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
Phát triển phong trào thể dục - thể thao quần chúng, quan tâm phát triển thể thao thành tích cao. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác phát thanh - truyền hình, tăng cường hoạt động thông tin truyền thông, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
3. Phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc, tôn giáo
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và toàn xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, y đức đội ngũ cán bộ y tế. Tăng cường thực hiện hiệu quả công tác phối hợp liên ngành trong quản lý, kiểm tra đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, hành nghề y - dược tư nhân. Tiếp tục duy trì, xây dựng xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế, củng cố phát triển y tế xã, phường. Kế thừa, bảo tồn và phát triển y, dược cổ truyền, nâng cao hiệu quả công tác y tế dự phòng, tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển y tế tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống y tế tư nhân phát triển theo hướng chất lượng cao.
Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân số và phát triển; cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản; duy trì mức sinh hợp lý, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách, chế độ ưu đãi cho người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội. Triển khai thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện để hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản.
Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề; gắn đạo tạo nghề với thị trường lao động; phát huy nguồn lực, liên kết các cơ sở đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội. Tiếp tục thực hiện đa dạng các loại hình tổ chức, phương pháp cai nghiện ma túy, gắn cai nghiện, chữa trị với dạy nghề và giải quyết việc làm. Tăng cường công tác cai nghiện ma tuý và quản lý người nghiện sau cai. Thực hiện quản lý 100% người nghiện có mặt trên địa bàn.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo, kịp thời nắm bắt tình hình và ngăn chặn các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động bất hợp pháp ngay tại cơ sở; đảm bảo đầy đủ quyền và tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.
IV. ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Xác định công tác cải cách hành chính là một trong những khâu đột phá. Đảng bộ thành phố tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả công tác cải cách hành chính bám sát các mục tiêu, yêu cầu cải cách hành chính của Chính phủ và Tỉnh. Thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính; kịp thời công bố, công khai thủ tục hành chính; đẩy mạnh việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, cải cách chế độ công vụ, nâng cao hiệu quả thực hiện đề án vị trí việc làm; tiếp tục tinh giản biên chế.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra công vụ và hoạt động cải cách hành chính. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, có tính chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn mới. Chấn chỉnh lề lối làm việc, kỷ luật, kỷ cương hành chính.
Tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước. Duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001: 2015. Nghiêm túc tiếp thu những phản ánh, kiến nghị của nhân dân về công tác cải cách hành chính để có giải pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.
V. CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG, AN NINH; GIỮ VỮNG AN NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI; NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC NỘI CHÍNH, ĐỐI NGOẠI
Tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh trên cơ sở xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Kiên quyết đấu tranh với các loại tội phạm, tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm, nâng cao tỷ lệ điều tra, khám phá án; đẩy lùi tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp đồng bộ để kiềm chế, đẩy lùi tai nạn giao thông, phấn đấu hằng năm giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết, số người bị thương. Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ anh ninh Tổ quốc. Phát hiện, xử lý kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân, không để phát sinh “điểm nóng” phức tạp, tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được phát hiện, xử lý kịp thời, chính xác, nghiêm minh. Đẩy mạnh phát hiện, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án về kinh tế, tham nhũng theo đúng quy định của pháp luật. Thường xuyên củng cố tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của các cơ quan khối nội chính. Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Nâng cao chất lượng tiếp nhận, xử lý kịp thời các tố giác tin báo tội phạm về tham nhũng. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các cơ quan khối nội chính với các đơn vị liên quan trong việc phối hợp giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, quy chế người đứng đầu cấp ủy tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân thường xuyên, định kỳ. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, nhất là giữa các cơ quan chức năng trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo.
Tiếp tục triển khai thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy về công tác tư pháp và cải cách tư pháp. Tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành ở các cơ quan tư pháp, đảm bảo công khai, minh bạch. Chú trọng, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa, đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, bị cáo, luật sư. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp để giải quyết kịp thời, dứt điểm, nghiêm minh, đúng pháp luật các vụ án trọng điểm, dư luận xã hội quan tâm. Phát huy hiệu quả công tác giám sát đối với hoạt động tư pháp. Kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, triển khai hoạt động đối ngoại một cách đồng bộ, kết hợp giữa đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh địa phương. Tăng cường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực giữa thành phố với các địa phương trong và ngoài nước, các đô thị trong cụm đô thị vùng Đông Bắc và Hiệp hội các đô thị Việt Nam. Chủ động thực hiện tốt công tác văn hóa đối ngoại, thông tin đối ngoại, giữ vững an ninh đối ngoại. Tiếp tục vận động, đẩy mạnh xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài và viện trợ phi chính phủ nước ngoài có hiệu quả.
VI. XÂY DỰNG ĐẢNG, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH
1. Xây dựng Đảng vững mạnh trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên tuyền viên, đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn. Tổ chức tốt việc quán triệt, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng việc làm cụ thể, thiết thực; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cơ quan, đơn vị... và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.
Chủ động nắm bắt, xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội, hoạt động của các cơ quan báo chí, truyền thông, văn hóa, văn nghệ. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác khoa giáo, giáo dục lý luận chính trị và tuyên truyền, giáo dục lịch sử đảng bộ địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, phục vụ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù, địch trong tình hình mới theo sát tinh thần chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh.
Chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện hiệu quả các đề án của Tỉnh ủy và Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, giai đoạn 2021 - 2025. Duy trì nền nếp công tác giao ban các khối: trường học; xã, phường; doanh nghiệp; hành chính, sự nghiệp trực thuộc Đảng bộ Thành phố.
Chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; ban hành quy chế làm việc của cấp ủy, thực hiện nguyên tắc trong sinh hoạt đảng; đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; xây dựng và quản lý đội ngũ đảng viên, nâng cao chất lượng đảng viên, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đôn đốc cơ sở trong việc tổ chức, kiểm điểm, đánh giá xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên; thường xuyên rà soát, sàng lọc đội ngũ đảng viên kiên quyết kịp thời đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi đảng, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu về công tác tổ chức xây dựng đảng theo mục tiêu Nghị quyết đề ra. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng tạo nguồn phát triển đảng viên, đảm bảo yêu cầu về chất lượng và số lượng trong công tác phát triển đảng viên mới. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với quy hoạch cán bộ. Đẩy mạnh luân chuyển cán bộ để đào tạo cán bộ qua thực tiễn và từng bước khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ địa phương trong công tác bố trí, sắp xếp cán bộ. Làm tốt công tác quản lý cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là ở cơ sở.
Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện thường xuyên, toàn diện, khách quan, dân chủ, thận trọng và chặt chẽ; kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên với kiểm tra dấu hiệu vi phạm, đột xuất theo chuyên đề; coi trọng phòng ngừa, lấy xây là chính; kịp thời phát hiện, nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn hành vi vi phạm chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết xử lý nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của nhiệm kỳ, hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, đơn vị. Xác định lĩnh vực, địa bàn trọng tâm trọng điểm để tập trung kiểm tra, giám sát, chú ý những khâu, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực như: quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, tài chính, tài sản công, dự án đầu tư, làm nhiệm vụ phòng chống tham nhũng... Nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy trong lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có năng lực phẩm chất, bản lĩnh chính trị, kỹ năng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, chương trình, đề án của Đảng về công tác dân vận, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhất là Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” và Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết. Đẩy mạnh công tác dân vận của chính quyền. Tăng cường hoạt động tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với cán bộ, đảng viên và nhân dân.
2. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, nhất là chất lượng ban hành các nghị quyết, công tác giám sát, chất vấn và tiếp xúc cử tri. Tạo mọi điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, nội dung để đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động. Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Phối hợp chuẩn bị và tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đảm bảo lựa chọn các đại biểu có năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm, nhiệt tình để giới thiệu bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.
Thực hiện tốt chương trình công tác nhiệm kỳ và hằng năm của Hội đồng nhân dân. Thường trực Hội đồng nhân dân, hai ban Hội đồng nhân dân, tổ đại biểu và các đại biểu Hội đồng nhân dân tích cực hoạt động, tham gia, đề xuất với các cơ quan chức năng có thẩm quyền các giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, anh ninh, an sinh xã hội theo đúng quy định của pháp luật, và phù hợp điều kiện thực tiễn tại địa phương. Tăng cường giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật trên địa bàn, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc giải quyết các ý kiến kiến nghị của cử tri và giải quyết những kiến nghị sau giám sát. Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố và các cơ quan hữu quan có liên quan trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định.
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân các cấp; thực hiện có hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân theo quy định. Thực hiện tốt hơn nữa sự phối hợp giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc triển khai tổ chức thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế. Chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên đến năm 2035. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị đồng bộ, xác định đây là khâu đột phá để thực hiện mục tiêu xây dựng Thành phố phát triển nhanh và bền vững từng bước văn minh, hiện đại.
3. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội
Tiếp tục đổi mới nội dung, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; quan tâm chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên, đoàn viên, hội viên, nhân dân; chú trọng chăm lo, giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho đoàn viên thanh thiếu nhi; đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, phát triển đoàn viên, hội viên đặc biệt là ở khu vực ngoài nhà nước; hướng hoạt động về cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, hội viên, phát huy dân chủ và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; phát huy vai trò nòng cốt trong công tác tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.
Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu chặng đường phát triển mạnh mẽ, toàn diện của Thành phố trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và xây dựng hệ thống chính trị; đồng thời mở ra thời kỳ phát triển mới. Kế thừa và phát huy những thành tựu đã đạt được, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thành phố đoàn kết một lòng, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thách thức, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, xây dựng thành phố Thái Nguyên phát triển nhanh và bền vững theo hướng văn minh, hiện đại; nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
|
|
T/M BAN CHẤP HÀNH |