Sớm bàn giao một phần đất rừng Tam Đảo cho địa phương quản lý
Cập nhật ngày: 10/05/2016 09:57 (Lượt xem: 8286).jpg)
Căn nhà của gia đình anh Nguyễn Văn Thanh, ở xóm La Tre, xã Mỹ Yên (Đại Từ) đang nằm trong ranh giới quản lý của Vườn Quốc gia Tam Đảo.
Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập năm 1996 với tổng diện tích gần 35.000ha, là rừng đặc dụng, trong đó diện tích nằm trên địa bàn huyện Đại Từ là 12.672ha. Thực hiện chủ trương của cấp trên, năm 1997, tỉnh ta đã có quyết định thu hồi và bàn giao 12.022ha đất (gồm đất lâm nghiệp và đất khác) cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, gần 650ha còn lại chưa được thu hồi. Kết quả rà soát các loại đất rừng năm 2009 trên địa bàn huyện Đại Từ cho thấy: Trong ranh giới Vườn Quốc gia Tam Đảo vẫn còn 36 hộ dân với hơn 100 nhân khẩu cư trú từ trước khi thành lập Vườn Quốc gia, trong số này nhiều hộ đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cùng với đó là hàng trăm hộ dân ở ngoài nhưng có lán, đất trồng chè hoặc vườn cây nằm trong khu vực rừng đặc dụng. Ngoài ra, đường ranh giới và mốc giới của Vườn Quốc gia tại một số vị trí cũng không chính xác và khó xác định trên thực địa. Trước thực tế này, tháng 6-2010, UBND tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Ban quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo triển khai Hội nghị về quy hoạch ranh giới và phân định các loại rừng trên địa bàn huyện Đại Từ. Hội nghị đã thống nhất phương án đề nghị điều chỉnh cắt 2.202,6ha đất Vườn Quốc gia Tam Đảo thuộc địa phận huyện Đại Từ để giao cho huyện quản lý theo quy chế rừng phòng hộ. Hầu hết diện tích này có độ cao tuyệt đối từ 300m trở xuống. Tuy nhiên cho đến nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Vườn Quốc gia Tam Đảo vẫn chưa có văn bản đồng ý, phê duyệt điều chỉnh diện tích nói trên. Điều này đã gây khó khăn không nhỏ cho địa phương, mà trực tiếp là những hộ dân trong khu vực.
Trong số các xã nằm giáp ranh với dãy Tam Đảo, Mỹ Yên là một trong những địa phương có nhiều hộ dân đang ở và canh tác phía trong mốc giới của Vườn Quốc gia. Ông Bế Văn Túc, cán bộ phụ trách lâm nghiệp của xã thông tin: Theo rà soát và báo cáo từ các xóm, tổng diện tích người dân đang canh tác trong khu vực rừng đặc dụng Tam Đảo là 118,5ha với 378 hộ dân, trong đó có 110ha rừng trồng và 8,5ha chè. Ngoài ra, còn gần chục hộ có nhà ở phía trong mốc giới. Thực tế, đây đều là những diện tích người dân khai phá và trồng cây từ vài chục năm về trước. Sau có chủ trương bàn giao đất cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, họ không được phép khai thác lâm sản ở những diện tích đã trồng nên đời sống gặp khó khăn không nhỏ. Ông Nguyễn Văn Thanh, một hộ dân ở xóm La Tre, xã Mỹ Yên có nhà trong khu vực rừng đặc dụng Tam Đảo cho rằng: Căn nhà của gia đình tôi đã xây dựng được hơn 30 năm, từ khi chưa chủ trương thành lập Vườn Quốc gia Tam Đảo. Biết là tiếp tục ở như vậy là vi phạm, nhưng tôi không có điều kiện di chuyển tới nơi khác. Ông Nguyễn Văn Tới, ở cùng xóm La Tre cũng có hơn 8 sào chè trong vùng rừng đặc dụng. Ông Tới cho biết: Tuy cán bộ của Vườn Quốc gia vẫn tạo điều kiện cho người dân thu hoạch chè khi đến lứa nhưng không được phép cải tạo hoặc trồng lại. Trong khi những cây chè đã trồng từ lâu nên phần nhiều đã già cỗi và cho năng suất thấp. Chúng tôi đề nghị những diện tích ở khu vực thấp, vốn là vườn hoặc rừng trồng của người dân sẽ sớm được bàn giao cho địa phương quản lý, điều này sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ và phát trển rừng hiệu quả hơn.
Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập năm 1996 với tổng diện tích gần 35.000ha, là rừng đặc dụng, trong đó diện tích nằm trên địa bàn huyện Đại Từ là 12.672ha. Thực hiện chủ trương của cấp trên, năm 1997, tỉnh ta đã có quyết định thu hồi và bàn giao 12.022ha đất (gồm đất lâm nghiệp và đất khác) cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, gần 650ha còn lại chưa được thu hồi. Kết quả rà soát các loại đất rừng năm 2009 trên địa bàn huyện Đại Từ cho thấy: Trong ranh giới Vườn Quốc gia Tam Đảo vẫn còn 36 hộ dân với hơn 100 nhân khẩu cư trú từ trước khi thành lập Vườn Quốc gia, trong số này nhiều hộ đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cùng với đó là hàng trăm hộ dân ở ngoài nhưng có lán, đất trồng chè hoặc vườn cây nằm trong khu vực rừng đặc dụng. Ngoài ra, đường ranh giới và mốc giới của Vườn Quốc gia tại một số vị trí cũng không chính xác và khó xác định trên thực địa. Trước thực tế này, tháng 6-2010, UBND tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Ban quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo triển khai Hội nghị về quy hoạch ranh giới và phân định các loại rừng trên địa bàn huyện Đại Từ. Hội nghị đã thống nhất phương án đề nghị điều chỉnh cắt 2.202,6ha đất Vườn Quốc gia Tam Đảo thuộc địa phận huyện Đại Từ để giao cho huyện quản lý theo quy chế rừng phòng hộ. Hầu hết diện tích này có độ cao tuyệt đối từ 300m trở xuống. Tuy nhiên cho đến nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Vườn Quốc gia Tam Đảo vẫn chưa có văn bản đồng ý, phê duyệt điều chỉnh diện tích nói trên. Điều này đã gây khó khăn không nhỏ cho địa phương, mà trực tiếp là những hộ dân trong khu vực.
Trong số các xã nằm giáp ranh với dãy Tam Đảo, Mỹ Yên là một trong những địa phương có nhiều hộ dân đang ở và canh tác phía trong mốc giới của Vườn Quốc gia. Ông Bế Văn Túc, cán bộ phụ trách lâm nghiệp của xã thông tin: Theo rà soát và báo cáo từ các xóm, tổng diện tích người dân đang canh tác trong khu vực rừng đặc dụng Tam Đảo là 118,5ha với 378 hộ dân, trong đó có 110ha rừng trồng và 8,5ha chè. Ngoài ra, còn gần chục hộ có nhà ở phía trong mốc giới. Thực tế, đây đều là những diện tích người dân khai phá và trồng cây từ vài chục năm về trước. Sau có chủ trương bàn giao đất cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, họ không được phép khai thác lâm sản ở những diện tích đã trồng nên đời sống gặp khó khăn không nhỏ. Ông Nguyễn Văn Thanh, một hộ dân ở xóm La Tre, xã Mỹ Yên có nhà trong khu vực rừng đặc dụng Tam Đảo cho rằng: Căn nhà của gia đình tôi đã xây dựng được hơn 30 năm, từ khi chưa chủ trương thành lập Vườn Quốc gia Tam Đảo. Biết là tiếp tục ở như vậy là vi phạm, nhưng tôi không có điều kiện di chuyển tới nơi khác. Ông Nguyễn Văn Tới, ở cùng xóm La Tre cũng có hơn 8 sào chè trong vùng rừng đặc dụng. Ông Tới cho biết: Tuy cán bộ của Vườn Quốc gia vẫn tạo điều kiện cho người dân thu hoạch chè khi đến lứa nhưng không được phép cải tạo hoặc trồng lại. Trong khi những cây chè đã trồng từ lâu nên phần nhiều đã già cỗi và cho năng suất thấp. Chúng tôi đề nghị những diện tích ở khu vực thấp, vốn là vườn hoặc rừng trồng của người dân sẽ sớm được bàn giao cho địa phương quản lý, điều này sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ và phát trển rừng hiệu quả hơn.